Tài liệu – Comment 4

.-.-.

Dưới đây là chi tiết về phần thu thập tài liệu và bình luận của thành viên Nguyễn Yến Thị Phương của nhóm.

.-.-.

1.

Các hạt phóng xạ hình thành các ion khi nó phản ứng với các phân tử sinh học. Những ion này sau đó hình thành các gốc tự do phá hủy protein, màng, acid nucleic, gây tổn thương tế bào ADN dẫn đến ung thư, khuyết tật di truyền đến các thế hệ sau, có thể gây chết.

Sự tiếp xúc với phóng xạ có thể:

+ Gây rối loạn hệ thần kinh trung ương đặc biệt là ở não nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, hồi hộp, khó ngủ, kén ăn, mệt mỏi… lượng bức xạ càng nhiều thì các triệu chứng này càng nghiêm trọng và có thể gây chết.

+ Chỗ tia phóng xạ chiếu da sẽ bị bỏng hoặc tấy đỏ, vùng da bị nhiễm xạ có khả năng bị mọc mụn nước, biến thành màu đỏ, trông giống như tổn thương bị phơi nắng quá lâu. Sau đó có hiện tượng ngứa ngáy khó chịu, thậm chí bong da.

+ Ảnh hưởng tới cơ quan tạo máu, gây thiếu máu, lượng hồng cầu bị suy giảm, làm cho lượng bạch cầu giảm dẫn đến làm giảm khả năng chống bệnh viêm nhiễm, gây bệnh máu trắng. Cơ thể gầy yếu, sút cân, dần dần suy nhược toàn bộ cơ thể hoặc bị nhiễm trùng nặng rồi chết.

+ Ảnh hưởng lâu dài khi bị nhiễm chất phóng xạ là ung thư: ung thư vòm họng, ung thư phổi, ung thư da, ung thư tuyến giáp, ung thư xương…

Nguồn tài liệu: Vietbao.vn

Bình luận: Thông tin trên cho thấy những ảnh hưởng của các chất phóng xạ đối với con người, chất phóng xạ đã gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm và nguy cơ lâu dài là ung thư. Những dấu hiệu khi bị nhiễm chất phóng xạ không rõ ràng và chúng ta không ý thức được mình bị nhiễm xạ. Vì vậy, con người cần tìm hiểu để biết được các nguồn có thể phát sinh chất phóng xạ để có thể hạn chế ảnh hưởng của nó.

2.

Sau thảm họa hạt nhân Chernobyl năm 1986, Tổ chức y tế thế giới đã ghi nhận sự gia tăng đột ngột tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến giáp ở trẻ em ở các vùng lân cận do sự tiếp xúc với các ion phóng xạ giải phóng ra từ thảm họa.

Nguồn tài liệu: Giáo trình độc học môi trường đại cương, Nguyễn Văn Hạ, Trường đại học Đà Lạt.

Bình luận: Thông tin này cho thấy hậu quả của chất phóng xạ sau một vụ tai nạn hạt nhân, tỉ lệ trẻ em mắc bệnh ung thư tuyến giáp đã tăng nhanh chóng. Đây là bằng chứng chứng minh cho những ảnh hưởng của chất phóng xạ đối với con người.

3.

Những họa sĩ dùng bút lông radi (radi dial painter) – những người đã làm nhọn đầu bút bằng cách mút xoắn nó bằng lưỡi. Những nghiên cứu dịch tễ học đối với những họa sĩ này cho thấy sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư xương mà nguyên nhân có lẽ là sự thay thế canxi bằng 226Ra trong quá trình sinh kháng hóa.

Nguồn tài liệu: Giáo trình độc học môi trường đại cương, Nguyễn Văn Hạ, Trường đại học Đà Lạt + Từ Wikipedia (radium girl)

Bình luận: Thông tin này cũng cho thấy ảnh hưởng của chất phóng xạ đối với con người. những người công nhân này đã không ý thức được tác hại của chất phóng xạ radi, họ làm việc trong sự tiếp xúc với radi trong thời gian dài dẫn đến ung thư xương. Hiện nay có nhiều người lợi dụng những người không có kiến thức về chất phóng xạ, thuê họ làm những công việc có tiếp xúc với phóng xạ để có thể thu lợi nhuận về mình mà không chịu trách nhiệm đối với những hậu quả lâu dài từ việc tiếp xúc với phóng xạ của những người công nhân.

4.

Theo ủy ban năng lượng hoa Kỳ, phóng xạ urani ở các nhà máy điện hạt nhân, kho vũ khí, trung tâm nghiên cứu và các khu vực trước kia có xảy ra các vụ nổ hạt nhân như: Hyroshima, Nagasaki, Chernobyl… hàng năm làm ô nhiễm 2500 tỷ lít nước ngầm của thế giới. nguồn nước nhiễm phóng xạ này sau đó sẽ ngấm vào cây cối, động vật uống phải hoặc hòa tan vào nguồn nước sinh hoạt của con người và cuối cùng tích lũy vào cơ thể con người.

Nguồn tài liệu: Wikipedia – Ô nhiễm phóng xạ

Bình luận: Thông tin này cho chúng ta biết lượng nước ngầm bị ô nhiễm phóng xạ hàng năm là rất lớn và lượng nước ngầm bị ô nhiễm sẽ ngày càng tăng, khả năng lan ra rất xa vì hệ thống nước ngầm giữa các khu vực khác nhau có liên hệ với nhau. Điều này rất nguy hiểm đối với các loài động thực vật và đặc biệt là sức khỏe của con người. Khi sử dụng nguồn nước bị nhiễm phóng xạ thì các chất phóng xạ sẽ được tích tụ vào cơ thể con người cách trực tiếp hoặc gián tiếp qua các động thực vật bị nhiễm chất phóng xạ. Sự nhiễm chất phóng xạ thông qua nguồn nước không có biểu hiện bệnh trực tiếp ngay mà nó là một quá trình lâu dài, khó nhận biết nên con người hầu như không ý thức được mình bị nhiễm phóng xạ và không có biện pháp phòng tránh.

5.

Trận động đất sóng thần ngày 11 tháng 3 năm 2011 ở Nhật đã làm cho nhiều nhà máy phát điện ngưng hoạt động, ít nhất 3 vụ nổ lò phản ứng do sự tích tụ khí hydro khi hệ thống làm mát của các lò phản ứng bị hỏng. Tính đến ngày 14 tháng 3, có khoảng 160 người đã tiếp xúc với phóng xạ ở mức độ nguy hiểm gần các nhà máy điện hạt nhân.

Sóng thần đã gây ra 2 vụ nổ lớn tại nhà máy Fukushima I gây rò rỉ phóng xạ. Cơ quan an toàn hạt nhân và công nghiệp Nhật Bản báo cáo rằng mức độ phóng xạ bên trong nhà máy gấp 1000 lần mức bình thường, mức độ phóng xạ bên ngoài nhà máy gấp 8 lần mức bình thường.

Sau vụ nổ lò phản ứng số 4 gây rung chuyển khu vực nhà máy Fukushima 1 mức độ phóng  xạ đo được gần lò phản ứng là 400 msv/giờ, trong khi 100msv/năm được coi là mức an toàn.

Nguồn tài liệu: Wikipedia – Động đất và sóng thần Tōhoku 2011

Bình luận: Thông tin này cho chúng ta thấy: hiện nay có rất nhiều nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân được xây dựng nên con người phải đối diện với nhiều nguy cơ khi có sự cố xảy ra. Ví dụ: động đất, sóng thần,… các chất phóng xạ sẽ được giải phóng vào môi trường, ảnh hưởng rất lớn đối với môi trường và con người.

6.

Quá trình khai thác, chế biến, sử dụng các sa khoáng có chứa các chất phóng xạ như: ilmenit, zircon, monazite,… dẫn đến sự làm giàu và tăng khả năng xâm nhập của các nguyên tố phóng xạ vào môi trường xung quanh gây ô nhiễm phóng xạ. Các chất thải chứa chất phóng xạ chưa qua xử lí được thải trực tiếp ra các con sông, ra biển…

Ô nhiễm phóng  xạ từ việc khai thác quặng titan: Vùng ven biển Nam Trung bộ, ở khu mỏ sa khoáng quặng titan, việc khai thác mỏ sa khoáng titan (còn gọi là cát đen) đã gây ô nhiễm phóng xạ. Trong quặng ilmenit, zircon có các khoáng vật chứa các chất phóng xạ, nhất là khoáng vật monazit, có hàm lượng phóng xạ cao, rất nguy hiểm cho sức khỏe con người. Để khai thác quặng này, người ta phải đào các cồn cát rồi tuyển và làm giàu quặng bằng nước. Kết quả, hàng năm có hàng trăm nghìn tấn cát bị đào xới, khối lượng cát thải, chất thải khổng lồ bị san ủi ra môi trường xung quanh, nước từ quá trình tuyển khoáng cho chảy trực tiếp ra biển, mà không qua xử lý làm cho nước biển vùng hai cửa sông lân cận khu mỏ có mức phóng xạ vượt quá tiêu chuẩn an toàn quy định.

Nguồn tài liệu: Modiachat.com

Bình luận: Việc khai thác tài nguyên khoáng sản đã gây ô nhiễm môi trường rất nặng nề. Vì hầu hết các chất thải, nước thải,… từ việc khai thác đều được xả trực tiếp vào môi trường mà không qua việc xử lý nào. Trong đó, việc khai thác các loại quặng, đất hiếm,…có chứa các chất phóng xạ đã làm phát tán chất phóng xạ vào đất, không khí, đặc biệt là môi trường nước từ đó sẽ tích lũy vào con người.

.-.-.

Thành viên Nguyễn Yến Thị Phương đảm nhận Phần Ảnh hưởng đối với con người (mục 3.4) + Phần IV – Sự phát tán của phóng xạ (cùng các thành viên khác) + Phần V – Thực trạng ô nhiễm phóng xạ.

Tài liệu – Comment 3

.-.-.

Dưới đây là chi tiết về phần thu thập tài liệu và bình luận của thành viên Dà Gout Phli của nhóm.

(Được trình bày dưới dạng “Nguồn tài liệu => Bình luận của thành viên”).

.-.-.

1.

– Trang 33-35 Môi Trường Nhiễm Xạ và Kỹ Thuật Hạt Nhân Trong Nghiên Cứu Môi Trường, Đặng Huy Uyên.

– Trang 173 Hóa Học Môi Trường tập Một, Đặng Kim Chi.

=> Ảnh hưởng của phóng xạ đối với môi trường đất.

2.

– Trang 173-175 Hóa Học Môi Trường tập Một, Đặng Kim Chi.

=> Ảnh hưởng của phóng xạ đối với môi trường nước.

3.

– Trang 20-26 Môi Trường Nhiễm Xạ và Kỹ Thuật Hạt Nhân Trong Nghiên Cứu Môi Trường, Đặng Huy Uyên.

=> Ảnh hưởng của phóng xạ đối với không khí.

4.

– Trang 172-173 Hóa Học Môi Trường tập Một, Đặng Kim Chi.

– Trang 144 Sinh Thái và Môi Trường, Nguyễn Văn Tuyên.

=> Ảnh hưởng của phóng xạ đối với sinh vật.

.-.-.

Thành viên Dà Gout Phli đảm nhận Phần III – Ảnh hưởng của phóng xạ đối với môi trường và con người (từ mục 3.1 đến 3.4) + Phần IV – Sự phát tán của phóng xạ (cùng các thành viên khác).

Tài liệu – Comment 2

.-.-.

Dưới đây là chi tiết về phần thu thập tài liệu và bình luận của thành viên Vũ Thùy Linh của nhóm.

(Được trình bày dưới dạng “Nguồn tài liệu => Bình luận của thành viên”).

.-.-.

1.

“The radioactive pollution is defined as the physical pollution of air, water and the other radioactive materials. The ability of certain materials to emit the proton, gamma rays and electrons by their nuclei is known as the radioactivity.” – The Bigger.com

– “Radioactive pollution can be defined as the emission of high energy particles or radioactive substance into air, water or land due to human activities in the form of radioactive waste.” – Environment About

– Tổng hợp từ một số nguồn tài liệu khác.

=> Khái niệm cơ bản về phóng xạ và ô nhiễm phóng xạ.

2.

– Trang 172 Hóa Học Môi Trường tập Một, Đặng Kim Chi.

Bài Giảng Ô Nhiễm Phóng Xạ

– Trang 267-273 Vật Lí 12 – Nâng Cao, Nhà xuất bản Giáo Dục.

=> Bản chất và một số tính chất đặc trưng của các tia phóng xạ.

3.

– Trang 33-35 Môi Trường Nhiễm Xạ và Kỹ Thuật Hạt Nhân Trong Nghiên Cứu Môi Trường, Đặng Huy Uyên.

– Trang 173 Hóa Học Môi Trường tập Một, Đặng Kim Chi.

=> Ảnh hưởng của phóng xạ đối với môi trường đất.

.-.-.

Thành viên Vũ Thùy Linh đảm nhận Phần I – Các khái niệm cơ bản + Mục 3.1 – Ảnh hưởng đối với môi trường đất (cùng thành viên Dà Gout Phli) + Phần IV – Sự phát tán của phóng xạ (cùng các thành viên khác).

Tài liệu – Comment 1

.-.-.

Dưới đây là chi tiết về phần thu thập tài liệu và bình luận của thành viên Ma Khoan của nhóm.

(Được trình bày dưới dạng “Nguồn tài liệu => Bình luận của thành viên”).

.-.-.

1.

– Trang 1-8 và 15-16 Môi Trường Nhiễm Xạ và Kỹ Thuật Hạt Nhân Trong Nghiên Cứu Môi Trường, Đặng Huy Uyên.

=> Các nguồn phóng xạ trong tự nhiên.

2.

– Trang 8-15 Môi Trường Nhiễm Xạ và Kỹ Thuật Hạt Nhân Trong Nghiên Cứu Môi Trường, Đặng Huy Uyên.

=> Các nguồn phóng xạ do con người tạo ra.

.-.-.

Thành viên Ma Khoan đảm nhận Phần II – Nguồn gốc + Phần IV – Sự phát tán của phóng xạ (cùng các thành viên khác).

Thực trạng ô nhiễm phóng xạ

.-.-.

V – Thực trạng ô nhiễm phóng xạ:

 –         Các nhà máy điện hạt nhân đã tạo ra nguồn năng lượng rất lớn phục vụ cho nhu cầu của con người. Nhưng việc nhiều nhà máy điện hạt nhân, nhiều lò phản ứng được xây dựng đã làm tăng sự ô nhiễm phóng xạ do sự rò rỉ phóng xạ, các sự cố nổ lò phản ứng hạt nhân… đã gây ảnh hưởng rất lớn đối với môi trường và con người.

Theo ủy ban năng lượng hoa Kỳ, phóng xạ urani ở các nhà máy điện hạt nhân, kho vũ khí, trung tâm nghiên cứu và các khu vực trước kia có xảy ra các vụ nổ hạt nhân như: Hyroshima, Nagasaki, Chernobyl… hàng năm làm ô nhiễm 2500 tỷ lít nước ngầm của thế giới. nguồn nước nhiễm phóng xạ này sau đó sẽ ngấm vào cây cối, động vật uống phải hoặc hòa tan vào nguồn nước sinh hoạt của con người và cuối cùng tích lũy vào cơ thể con người.

Trận động đất sóng thần ngày 11 tháng 3 năm 2011 ở Nhật đã làm cho nhiều nhà máy phát điện ngưng hoạt động, ít nhất 3 vụ nổ lò phản ứng do sự tích tụ khí hydro khi hệ thống làm mát của các lò phản ứng bị hỏng. Tính đến ngày 14 tháng 3, có khoảng 160 người đã tiếp xúc với phóng xạ ở mức độ nguy hiểm gần các nhà máy điện hạt nhân.

Sóng thần đã gây ra 2 vụ nổ lớn tại nhà máy Fukushima I gây rò rỉ phóng xạ. Cơ quan an toàn hạt nhân và công nghiệp Nhật Bản báo cáo rằng mức độ phóng xạ bên trong nhà máy gấp 1000 lần mức bình thường, mức độ phóng xạ bên ngoài nhà máy gấp 8 lần mức bình thường.

Sau vụ nổ lò phản ứng số 4 gây rung chuyển khu vực nhà máy Fukushima 1 mức độ phóng xạ đo được gần lò phản ứng là 400 msv/giờ, trong khi 100msv/năm được coi là mức an toàn.

–         Quá trình khai thác, chế biến, sử dụng các sa khoáng có chứa các chất phóng xạ như: ilmenit, zircon, monazite,… dẫn đến sự làm giàu và tăng khả năng xâm nhập của các nguyên tố phóng xạ vào môi trường xung quanh gây ô nhiễm phóng xạ. Các chất thải chứa chất phóng xạ chưa qua xử lí được thải trực tiếp ra các con sông, ra biển…

Ô nhiễm phóng xạ từ việc khai thác quặng titan: Vùng ven biển Nam Trung bộ, ở khu mỏ sa khoáng quặng titan, việc khai thác mỏ sa khoáng titan (còn gọi là cát đen) đã gây ô nhiễm phóng xạ. Trong quặng ilmenit, zircon có các khoáng vật chứa các chất phóng xạ, nhất là khoáng vật monazit, có hàm lượng phóng xạ cao, rất nguy hiểm cho sức khỏe con người. Để khai thác quặng này, người ta phải đào các cồn cát rồi tuyển và làm giàu quặng bằng nước. Kết quả, hàng năm có hàng trăm nghìn tấn cát bị đào xới, khối lượng cát thải, chất thải khổng lồ bị san ủi ra môi trường xung quanh, nước từ quá trình tuyển khoáng cho chảy trực tiếp ra biển, mà không qua xử lý làm cho nước biển vùng hai cửa sông lân cận khu mỏ có mức phóng xạ vượt quá tiêu chuẩn an toàn quy định.

–         Việc khai thác, chế biến đất hiếm có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao hơn so với khai thác các khoáng sản khác vì chế biến đất hiếm cần sử dụng nhiều hóa chất ảnh hưởng đến môi trường. Ngoài ra, trong quặng đất hiếm có khoáng chất mang tính phóng xạ gây ô nhiễm phóng xạ.

–         Do sức mạnh hủy diệt to lớn của các loại vũ khí hạt nhân: bom nguyên tử, các đầu đạn hạt nhân,… mà nó đã được sản xuất ra với mục đích chiến tranh. Nhiều cuộc thử bom nguyên tử, tên lửa hạt nhân đã được thực hiện.

Mỹ đã thả 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật năm 1945 đã gây hậu quả khủng khiếp đối với môi trường và con người.

 

Sự phát tán của phóng xạ

[Updating]

Ảnh hưởng của phóng xạ đối với môi trường và con người

.-.-.

III – Ảnh hưởng của phóng xạ đối với môi trường và con người:

3.1. Ảnh hưởng đối với môi trường đất:

– Các hạt nhân phóng xạ tự nhiên sinh ra do sự tương tác của các tia trong Vũ Trụ và các bức xạ khác với khí quyển và ngưng đọng lại ở các lớp đá. Hạt nhân đặc trưng là U238, Th232, hạt nhân con trong các dãy này và K40. Ngoài ra, còn có một số đồng vị khác có nguồn gốc tự nhiên như Be7, Na22, Na24.

Bảng 3.1 – Hàm lượng các đồng vị phóng xạ điển hình trong các loại đất đá:

Loại nham thạch

Hàm lượng các chất phóng xạ chứa trong

các loại nham thạch Bq/kg (BCi/g)

K40

U238

Th232

Nham thạch do núi lửa

999 (27)

59 (1,6)

81 (2,2)

Granit
Diopit

703 (19)

23 (0,62)

33 (0,88)

Bazalt

241 (6,5)

11 (0,32)

11 (0,30)

Durit

148 (4,0)

0,4 (0,01)

24 (0,66)

Đất phù sa
Đá vôi

89 (2,6)

28 (0,75)

7 (0,19)

Cacbonat

27 (0,72)

8 (0,21)

Cát

370 (10)

18 (0,5)

11 (0,3)

Đất sét

703 (19)

44 (1,2)

44 (1,2)

– Các đồng vị phóng xạ nhân tạo có nhiều loại nhưng sống lâu và tồn tại trong đất là đồng vị Sr90 và Cs137. Các đồng vị này gây nên sự ô nhiễm phóng xạ trong đất. Hàm lượng các đồng vị này lại phụ thuộc vào độ sâu so với mặt đất. Thông thường ở độ sâu 45cm ÷ 55cm thì không thấy tồn tại các đồng vị phóng xạ nhân tạo. Tuy nhiên, ngay ở cùng độ sâu chừng 15cm tính từ mặt đất thì hàm lượng các đồng vị khác nhau như Sr90, Cs137 cũng khác nhau trong các loại đất khác nhau.

Bảng 3.2 – Hàm lượng các đồng vị phóng xạ phụ thuộc vào độ sâu:

Độ sâu (cm)

Đất sét pH = 4,6

Đất cát pH = 6,6

Đất ở phía bìa có đá vôi pH = 7,6

Sr (%)

Cs (%)

Sr (%)

Cs (%)

Sr (%)

Cs (%)

0,0 ÷ 2,5

50

98

63

98

57

43

2,5 ÷ 5,0

20

2

22

2

24

21

5,0 ÷ 7,5

15

13

19

7,5 ÷ 10

2

6

– Sr90 là sản phẩm thải luôn có mặt trong các vụ thử hạt nhân. Nguyên tố này có khả năng trao đổi tương tác với canxi trong xương. Bụi phóng xạ có mang theo Sr90 rơi xuống các đồng cỏ và thấm vào đất canh tác rồi bị gia súc ăn phải. Cuối cùng, chất phóng xạ độc hại đi vào cơ thể con người và nhất là trẻ sơ sinh qua con đường sữa bò.

3.2. Ảnh hưởng đối với môi trường nước:

Một số hạt nhân phóng xạ tìm thấy trong nước chủ yếu là Ra và K40, có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên, đặc biệt là qua thấm lọc từ khoáng chất. Những chất khác đến từ các nguồn ô nhiễm, chủ yếu từ các nhà máy sản xuất năng lượng hạt nhân và các vụ thử vũ khí hạt nhân.

Bảng 3.3 – Các hạt nhân phóng xạ trong nước:

Hạt nhân

phóng xạ

Chu kỳ bán rã

Phản ứng hạt nhân, mô tả.

Nguồn

Xuất hiện từ các nguồn tự nhiên và từ các phản ứng vũ trụ

C14

5.730 năm

N14 C14, các nơtron nhiệt từ các nguồn vũ khí hạt nhân hoặc Vũ Trụ, phản ứng với N2.

Si32

~ 300 năm

Ar40 Si32, các mảnh vụn hạt nhân (phân rã các hạt nhân) của Ar khí quyển do các proton tia Vũ Trụ.

K40

~ 1,4 x 109 năm

0,0119% K tự nhiên.
Xuất hiện từ họ uran U238

Ra226

1.620 năm

Khuếch tán từ quặng trầm tích và khí quyển.

Pb210

21 năm

Ra226 → 6 bước → Pb210

Th230

75.200 năm

U238 → 3 bước → Th230 sản ra tại chỗ.

Th234

24 ngày

U238 → Th234 sản ra tại chỗ.
Từ nguồn các lò phản ứng và sản xuất vũ khí hạt nhân

Sr90

28 năm

Đây là các đồng vị phóng xạ sản phẩm phân đôi có ý nghĩa quan trọng nhất do hiệu suất và hoạt tính sinh học cao.

I131

8 ngày

Cs137

30 năm

Ba140

13 ngày

Các đồng vị từ Ba140 đến Kr85 được liệt kê trong bảng thường theo trình tự hiệu suất phân hủy giảm dần.

Zr95

65 ngày

Ce141

33 ngày

Sr89

51 ngày

Ru103

40 ngày

Kr85

10,3 năm

Co60

5,25 năm

Từ các phản ứng nơtron không phân hủy trong lò phản ứng.

Mn54

310 năm

Fe55

2,7 năm

Fe56 Fe55, từ tác động nơtron năng lượng cao lên Fe trong chế tạo vũ khí hạt nhân.

Pu239

24.300 năm

U238 Pu239, uran thu nơtron.

3.3. Ảnh hưởng đối với không khí:

– Các nguồn phóng xạ nguy hiểm nhất trong không khí là các vụ nổ thử vũ khí hạt nhân mà vật liệu làm chất nổ cho các loại vũ khí hạt nhân là các đồng vị phóng xạ U235, U238 và Pu239, mà các vụ nổ này tạo ra rất nhiều chất phóng xạ hình thành đám mây phóng xạ.

– Cường độ phóng xạ của Cs137 và Ba137 sau chừng 100 năm vẫn không giảm. Ngoài ra, các chất phóng xạ này lại thực hiện chu trình phân rã của mình tạo thành các khí phóng xạ hoặc sol khí phóng xạ. Các sol khí phóng xạ có kích thước khác nhau, con người hít thở không khí có sol khí này sẽ mắc các bệnh nguy hiểm.

– Các lò phản ứng hạt nhân cũng là nguồn đáng kể phát tán các chất phóng xạ vào khí quyển.

– Cùng với hoạt động sản xuất trong các nhà máy nhiên liệu hạt nhân, các hoạt động nghiên cứu thực nghiệm quanh và trong các lò phản ứng hạt nhân thường phát tán các chất phóng xạ làm nhiễm bẩn môi trường.

3.4. Ảnh hưởng đối với sinh vật:

– Phóng xạ hủy hoại các cơ thể sống bởi vì nó khơi mào các phản ứng hóa học độc hại đối với các mô tế bào. Ví dụ, các liên kết trong các cấu trúc cao phân tử sẽ bị bẻ gãy. Trong các trương hợp ngộ độ phóng xạ cấp tính, tủy xương, nơi tạo ra các hồng cầu máu bị hủy hoại và số lượng hồng cầu trong máu bị giảm sút. Phóng xạ dẫn đến làm tổn hại gen và đây là một mối quan tâm lớn đối với nhân loại.

– Tia X, tia α, tia β, tia γ hoặc nơtron đều nguy hiểm với các tổ chức sống. Nó gây ion hóa và hủy hoại tế bào, gây những đột biến di truyền quan trọng.

v     Ảnh hưởng đối với con người:

– Các hạt phóng xạ hình thành các ion khi nó phản ứng với các phân tử sinh học. Những ion này sau đó hình thành các gốc tự do phá hủy protein, màng, acid nucleic, gây tổn thương tế bào ADN dẫn đến ung thư, khuyết tật di truyền đến các thế hệ sau, có thể gây chết.

– Sự tiếp xúc với phóng xạ có thể:

+ Gây rối loạn hệ thần kinh trung ương đặc biệt là ở não nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, hồi hộp, khó ngủ, kén ăn, mệt mỏi… lượng bức xạ càng nhiều thì các triệu chứng này càng nghiêm trọng và có thể gây chết.

+ Chỗ tia phóng xạ chiếu da sẽ bị bỏng hoặc tấy đỏ, vùng da bị nhiễm xạ có khả năng bị mọc mụn nước, biến thành màu đỏ, trông giống như tổn thương bị phơi nắng quá lâu. Sau đó có hiện tượng ngứa ngáy khó chịu, thậm chí bong da.

+ Ảnh hưởng tới cơ quan tạo máu, gây thiếu máu, lượng hồng cầu bị suy giảm, làm cho lượng bạch cầu giảm dẫn đến làm giảm khả năng chống bệnh viêm nhiễm, gây bệnh máu trắng. Cơ thể gầy yếu, sút cân, dần dần suy nhược toàn bộ cơ thể hoặc bị nhiễm trùng nặng rồi chết.

+ Ảnh hưởng lâu dài khi bị nhiễm chất phóng xạ là ung thư: ung thư vòm họng, ung thư phổi, ung thư da, ung thư tuyến giáp, ung thư xương…

–         Sau thảm họa hạt nhân Chernobyl năm 1986, Tổ chức y tế thế giới đã ghi nhận sự gia tăng đột ngột tỷ lệ mắc bệnh ung thư tuyến giáp ở trẻ em ở các vùng lân cận do sự tiếp xúc với các ion phóng xạ giải phóng ra từ thảm họa.

–         Những họa sĩ dùng bút lông radi (radi dial painter) – những người đã làm nhọn đầu bút bằng cách mút xoắn nó bằng lưỡi. Những nghiên cứu dịch tễ học đối với những họa sĩ này cho thấy sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư xương mà nguyên nhân có lẽ là sự thay thế canxi bằng 226Ra trong quá trình sinh kháng hóa.

Nguồn gốc

.-.-.

II – Nguồn gốc:

2.1. Nguồn gốc tự nhiên:

2.1.1. Các loại phân rã phóng xạ tự nhiên:

Trong tự nhiên, thông thường có ba dãy nguyên tố phóng xạ luôn luôn hoạt động, đó là dãy uran, dãy thori, dãy actini. Đầu mỗi dãy đều có một đồng vị phóng xạ với thời gian sống dài lâu (sống lâu) và cuối mỗi dãy luôn luôn là những đồng vị bền của chì.

Bảng 2.1 – Dãy Uran:

Tên

nguyên tố

Ký hiệu

Các loại hạt bức xạ

Chu kỳ bán rã

α

β

γ

Uran

U238

+

+

4,5 x 109 năm
Thori

Th234

+

+

24,1 ngày
Protactini

Pa234

+

+

117 phút
Uran

U234

+

+

2,5 x 105 năm
Thori

Th230

+

+

8,0 x 104 năm
Radi

Ra226

+

+

1,6 x 103 năm
Radon

Rn222

+

+

3,82 ngày
Poloni

Po218

+

3,05 phút
Chì

Pb214

+

+

26,8 phút
Bitmut

Bi214

+

+

19,7 phút
Poloni

Po214

+

+

1,6 x 10-4 giây
Tali

Tl210

+

+

1,32 phút
Chì

Pb210

+

+

20,4 năm
Bitmut

Bi210

+

+

5 ngày
Poloni

Po210

+

+

138 ngày
Chì

Pb206

Hạt nhân bền

Bảng 2.2 – Dãy Thori:

Tên

nguyên tố

Ký hiệu

Các loại hạt bức xạ

Chu kỳ bán rã

α

β

γ

Thori

Th232

+

+

1,41 x 1010 năm
Radi

Ra228

+

6,7 năm
Aktoni

Ac228

+

+

6,13 giờ
Thori

Th228

+

+

1,90 năm
Radi

Ra224

+

+

3,64 ngày
Radon

Rn220

+

+

55,3 giây
Poloni

Po210

+

0,145 giây
Chì

Pb212

+

+

10,6 giờ
Bitmut

Bi212

+

+

60,6 phút
Poloni

Po212

+

3 x 10-7 giây
Tali

Tl208

+

+

3,1 phút
Chì

Pb208

Hạt nhân bền

Bảng 2.3 – Dãy Actini:

Tên

nguyên tố

Ký hiệu

Các loại hạt bức xạ

Chu kỳ bán rã

α

β

γ

Uran

U235

+

+

71 x 108 năm
Thori

Th231

+

+

225 giờ
Protactini

Pa231

+

+

3,25 x 104 năm
Aktoni

Ac227

+

+

21,6 năm
Thori

Th227

+

+

18,2 ngày
Pranci

Fr223

+

+

22 phút
Radi

Ra223

+

+

11,44 ngày
Radon

Rn219

+

+

4,0 giây
Poloni

Po215

+

1,78 x 10-3 giây
Chì

Pb211

+

+

36,1 phút
Astatin

At211

+

0,9 phút
Bitmut

Bi211

+

+

2,16 phút
Poloni

Po211

+

+

0,5 giây
Tali

Tl207

+

+

4,79 phút
Chì

Pb207

Hạt nhân bền

2.1.2. Các hạt nhân phóng xạ khác:

– Trong các loại đất, đá trong lòng Trái Đất cũng có một số những nguyên tố phóng xạ khác, không nằm trong các dãy trên và có thời gian sống khá dài.

Bảng 2.4 – Các nguyên tố phóng xạ riêng lẻ trong tự nhiên:

Tên

nguyên tố

Ký hiệu

Các loại hạt bức xạ

Chu kỳ bán rã

α

β

γ

Kali

K40

+

+

1,3 x 109 năm
Vanadi

V50

+

+

6 x 1014 năm
Rubidi

Rb87

+

4,8 x 1010 năm
Indi

In115

+

6 x 1014 năm
Lantan

La138

+

+

1,1 x 1011 năm
Samari

Sm147

+

1,05 x 1011 năm
Luteti

Lu176

+

+

2,2 x 1010 năm

– Hoạt độ của các đồng vị phóng xạ này phụ thuộc vào thành phần đất, đá xác định. Hoạt độ của các hạt nhân phóng xạ trong các loại đá có nguồn gốc từ núi lửa như đá granit…. thường cao hơn ở các đá có nguồn gốc từ phù sa như đá vôi, đá cuội….

– Ngược lại với các loại đá, đối với các loại đất thì mật độ chất phóng xạ còn tùy thuộc vào dạng đất, quá trình hình thành loại đất, nguồn nước có trong đất và sự tạo thành các cây cối trên và trong đất đó.

2.1.3. Bức xạ từ Vũ Trụ:

– Bức xạ sơ cấp từ Vũ Trụ đi vào bầu khí quyển Trái Đất chủ yếu gồm các hạt proton, các hạt α và một lượng nhỏ các hạt điện tử, γ và nơtrino. Các hạt này tương tác với các hạt nhân nguyên tử khí trong khí quyển tạo ra các bức xạ thứ cấp và các hạt thứ cấp, và bức xạ điện từ được gọi chung là bức xạ Vũ Trụ thứ cấp. Bức xạ Vũ Trụ sơ cấp còn bao gồm các bức xạ từ các hệ thiên hà.

– Mức độ bức xạ Vũ Trụ còn phụ thuộc vào độ cao trong khí quyển và sự hoạt động của Mặt Trời càng cao thì lượng phóng xạ này càng tăng.

Bảng 2.5. Các đồng vị phóng xạ trong tự nhiên:

Tên

nguyên tố

Ký hiệu

Các loại hạt bức xạ

Chu kỳ bán rã

α

β

γ

Triti

H3

+

12,3 năm
Berili

Be7

+

54 ngày
Berili

Be10

+

25 x 106 năm
Cacbon

C14

+

5.730 năm
Natri

Na22

+

+

2,6 năm
Silic

Si32

+

650 năm
Photpho

P32

+

14,3 ngày
Photpho

P33

+

24,4 ngày
Lưu huỳnh

S35

+

88 ngày
Clo

Cl136

+

+

3,1 x 105 năm

2.2. Phóng xạ nhân tạo:

2.2.1. Thử nghiệm vũ khí hạt nhân:

– Các vụ nổ thử nghiệm vũ khí hạt nhân đều sinh ra các sản phẩm phóng xạ. Các sản phẩm phóng xạ này được phát tán trong khí quyển và sẽ được các loại đất đá hấp thụ ở những mức độ khác nhau. Các chất phóng xạ này có chu kỳ bán rã dài, ngắn khác nhau và chúng tồn tại ở môi trường địa phương xung quanh các vụ nổ ở hàm lượng khác so với ở những nơi xa các vụ nổ đó.

Bảng 2.6 – Các đặc trưng chính của các chất phóng xạ trong khí quyển sinh ra từ các vụ nổ hạt nhân:

Các chất phóng xạ

Chu kỳ

bán rã

Các dạng bức xạ

α

β

γ

H3

12,3 năm

+

C14

5.730 năm

+

Mn54

310 ngày

+

Fe55

2,7 ngày

Kr85

10,7 năm

+

Sr90

28 năm

+

Zn95

65 ngày

+

Ne95

35 ngày

+

Sr89

50,5 ngày

+

Ru103

39,8 ngày

+

Ru106

365 ngày

+

+

I131

8 ngày

+

+

Cs137

30 năm

+

+

Cs136

13,5 ngày

+

+

Ba140

12,8 ngày

+

+

La140

40,2 giờ

+

+

Ce141

33,1 ngày

+

Ce144

285 ngày

+

+

Pu138

87 năm

+

Pu239

24.000 năm

+

Pu240

6.600 năm

+

Pu241

14 năm

+

Am241

430 năm

+

– Từ các vụ nổ hạt nhân, các hạt phóng xạ hình thành được tung vào khí quyển; chúng bị mưa, gió kéo theo và phát tán trong khắp khí quyển rồi rơi xuống mặt đất. Các chất phóng xạ này cũng rơi xuống mặt biển và được phát tán trong nước biển từ đại dương này sang đại dương khác qua hoạt động của đại dương. Như vậy, các quá trình phát tán này chính là tác nhân của quá trình gây nhiễm xạ toàn cầu.

2.2.2. Sử dụng năng lượng hạt nhân:

Tất cả các nhà máy phát điện sử dụng năng lượng hạt nhân đều sinh ra những chất phóng xạ phát tán vào môi trường khí quyển. Các chất phóng xạ được sinh ra liên tục với một lượng lớn trong các phản ứng dây chuyền phân hạch trong lò phản ứng. Qua tính toán, người ta đã thấy rằng, một lò phản ứng hạt nhân với công suất 1000 MW sẽ phát tán một lượng phóng xạ là 1010 Ci. Lượng phóng xạ này được tung vào môi trường ở trạng thái lỏng và hơi phóng xạ (khí).

Bảng 2.7 – Nhiễm xạ môi trường do các nhà máy điện nguyên tử gây ra:

Bq/năm (1000 MW)

Ci/năm (1000 MW)

Trạng thái lỏng
Sản phẩm phân hạch

1,12

30,2

Triti H3 (H3)

2,13 x 102

5750

Trạng thái khí
Khí trơ

3,57 x 102

9650

Á kim và hỗn hợp khí

1,48 x 10-2

0,4

2.2.3. Các nguồn khác:

– Ngày nay các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong y học, sinh học và công nông nghiệp một cách rộng rãi. Chính vì vậy, các chất phóng xạ dư thừa, các chất thải từ sự sử dụng này cũng làm cho môi trường bị nhiễm bẩn. Nhìn chung, trong số các ứng dụng này có thể coi việc sử dụng trong y học là một trong những nguồn đóng góp đáng kể vào việc làm ô nhiễm môi trường. Tuy vậy, lượng phóng xạ này cũng rất nhỏ.

– Các nhà máy nhiệt điện hoạt động đã thải tro bụi vào không khí. Ngoài tro bụi thì các đồng vị phóng xạ trong tro bụi đó cũng làm bẩn môi trường không khí của khu công nghiệp đó. Khả năng ô nhiễm này phụ thuộc vào chất lượng than đã dùng trong nhà máy, vào lượng tro, bụi rơi xuống vùng xung quanh cũng như phụ thuộc vào loại công nghệ mà nhà máy sử dụng.

Các khái niệm cơ bản

.-.-.

I – Các khái niệm cơ bản:

1.1. Phóng xạ và ô nhiễm phóng xạ:

– Phóng xạ là hiện tượng một hạt nhân không bền vững tự phát phân rã, phát ra các tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác.

– Ô nhiễm phóng xạ là sự phát tán của các tia có năng lượng cao và các chất phóng xạ vào đất, nước, không khí, sinh vật.

1.2. Các tia phóng xạ:

1.2.1. Tia α:

– Hạt α là hạt nhân của nguyên tử Heli thoát ra từ một nhân nguyên tử nặng trong quá trình biến đổi hạt nhân. Ví dụ:

Ra226 → Rn222 + He4

– Do kích thước lớn, các hạt α không thể thấm sâu vào vật chất (vài centimet không khí hay da là đủ để chặn lại) nhưng chúng lại có khả năng tạo ra một lượng lớn các sản phẩm ion hóa chỉ cần sau một thời gian thâm nhập rất ngắn (30.000 cặp ion trong 1cm mà tia đi qua). Do đó, các hạt α biểu hiện rất ít khả năng độc hại ngoài cơ thể nhưng chúng lại rất nguy hiểm qua đường tiêu hóa.

1.2.2. Tia β:

– Tia β là chùm điện tử, phát sinh ra từ hạt nhân nguyên tử, có kèm theo hiện tượng hạt nhân trung hòa (nơtron) biến thành hạt mang điện (proton) hoặc ngược lại, và có tia β (-) (như khi P32 biến thành S32) và tia β (+) (như khi Na22 biến thành Ne22).

– Mặc dù các hạt β có khả năng thâm nhập lớn hơn các hạt α nhưng chúng lại sản ra ít ion hơn nhiều theo đơn vị chiều dài đường đi (150 cặp ion qua 1cm không khí).

– Tia β có thể biến thành tia α hay tia X khi các hạt β chậm lại lúc đi gần một hạt nhân của chất bị đâm xuyên (bức xạ hãm).

3.1.3. Tia γ:

– Tia γ là chùm hạt photon phóng ra từ hạt nhân nguyên tử.

– Các tia γ có khả năng ion hóa rất kém (chỉ sinh vài cặp ion khi đi qua 1cm không khí) nhưng khả năng đâm xuyên lại rất mạnh so với các tia α và β. Phải dùng những tấm chì dày hàng centimet mới làm giảm được rõ rệt số tia đi qua. Không bao giờ tia γ bị hấp thụ hoàn toàn hoặc bị chặn hẳn lại.

– Bản chất tia γ là điện tử và có tốc độ là 3.108 m/s.

3.1.4. Nơtron:

– Nơtron là những hạt không mang điện của hạt nhân nguyên tử, được giải phóng trong quá trình phá vỡ hạt nhân nguyên tử nặng uran (lò phản ứng nguyên tử).

– Nơtron chỉ bị giữ lại khi va chạm vào các hạt nhân khác, do đó nó có khả năng đâm xuyên rất lớn, các nguyên tố có hạt nhân bị va chạm trở thành có tính phóng xạ.

3.1.5. Tia X:

– Sự đổi chỗ của các điện tử từ quỹ đạo này sang quỹ đạo khác phát ra tia X.

– Giống như tia γ, tia X cũng là bức xạ điện tử nhưng có bước sóng dài hơn. Các tính chất của tia X cũng tương tự tia γ.

Footstep

  • 25,794

In Dream

Asleep